VÌ SAO NGƯỜI CHẾT SAU 49 NGÀY MỚI ĐI ĐẦU THAI

VÌ SAO NGƯỜI CHẾT SAU 49 NGÀY MỚI ĐI ĐẦU THAI



Trong Phật giáo thường hay quan niệm rằng con người sau khi chết 49 ngày thì linh hồn người đó sẽ được đầu thai thành kiếp khác. Chính vì vậy mà vào 49 ngày gia đình thường cầu siêu giúp cho linh hồn được siêu thoát, nhẹ nhõm ra đi và đầu thai thành kiếp khác. Vậy mọi người có biết Vì sao người chết 49 ngày mới đi đầu thai không? Đây thực sự là vấn đề khó trả lời, là thắc mắc không chỉ riêng ai. Hãy cùng xem bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn nhé!

 

Linh hồn có sự chết và tái sinh


Khi một người chết phần hồn chuyển sang dạng thức thành vong hồn. Từ cấu trúc nửa đậm đặc sang cấu trúc mang hạt hoàn toàn lỏng, loãng, nhẹ. Ở cõi vong  các vong hồn hấp thu năng lượng qua các hạt điện sinh học tự do có trong bao la và các hạt điện sinh học toát ra từ các thức dâng cúng. Nhờ vào nguồn năng lượng đó, vong hấp thụ và cứng cáp dần. Sau một khoảng thời gian nó mới có thể thực sự hoạt động được ở cõi mới và những thực thể có đủ năng lượng để vượt lên cõi cao hơn tức là cõi linh vong hay siêu linh và chính là cõi niết bàn của Đạo phật và Thiên Đàng của Thiên Chúa Giáo. Những vong hồn yếu ở cõi vong không những không hấp thu được nguồn năng lượng tự do trong bao la mà còn bị sự va chạm của các sóng điện từ phá tan thành các hạt tự do để sẽ bị các hạt tự do trong bao la hấp thụ bởi lực hấp dẫn. Vong hồn ấy có thể gọi là đã chết. Các vong linh thì rất khó và các siêu linh thì không bao giờ trở lại để tái sinh. Vì các siêu linh đã hoàn thiện trong tiến hóa. Họ không còn ký ức về cõi trần mà có năng lượng siêu lớn nên có năng lực vô biên có thể có mặt tức thì ở mọi nơi, mọi lúc, biết được mọi chuyện ở cõi trần.

 

Có nên gọi hồn để biết hương linh đã siêu thoát hay chưa?



Theo giáo lý nhân quả nghiệp báo, những nỗ lực của người thân hướng về hương linh như tạo phước, cầu nguyện v.v… chỉ trợ duyên, ảnh hưởng tốt đến hương linh được phần nào thôi chứ không can thiệp sâu vào khuynh hướng tái sinh của họ. Vì mỗi người đều phải thừa tự nghiệp lực của chính mình. Để có thể được giải thoát, thì chắc chắn tự thân hương linh phải tỉnh thức và biết hướng thiện. Không ai có thể cứu vớt chúng ta ngoại trừ những nỗ lực tu tập của chính chúng ta. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Hãy tự mình nương tựa hòn đảo chính mình. Do vậy không nên nhờ các nhà ngoại cảm gọi hồn người thân đã mất. Giả sử gọi được và gọi đúng người thân thì chúng ta cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì. Vì giải thoát khổ đau phải do tự thân mỗi người thực hiện. Đó là chưa kể đến các trường hợp gọi không được hoặc gọi không đúng thì càng làm cho vấn đề phức tạp thêm. Các hương linh tiếp xúc với nhà ngoại cảm hầu hết là những chúng sinh trong loài ngạ quỷ và một số các thần thức chưa tìm được cảnh giới thọ sinh. Điều này chúng ta cần hết sức lưu ý vì giáo lý đạo Phật không đề cập đến cõi âm mà chỉ nói đến lục đạo cùng thân trung ấm. Do đó nếu các hương linh tiếp xúc với nhà ngoại cảm thì chắc chắn họ chưa giải thoát, có thể họ đã tái sinh vào ngạ quỷ .Theo Phật giáo sự vãng sinh hay siêu thoát cốt yếu do sự tỉnh thức và chuyển hóa của hương linh. Không có các đấng siêu nhiên hay bất cứ thế lực nào có thể làm giúp được. Đức Phật cũng chỉ là đạo sư, bậc thầy chỉ đường. Đi đến đích hay không là nhiệm vụ của chúng ta. Cũng vậy siêu thoát hay không là do chính nỗ lực giác ngộ của hương linh. Mặc dù những trợ duyên như tha lực của Phật và các vị Bồ tát, sự hộ niệm của chư Tăng, sự thành tâm tạo phước của thân nhân… là vô cùng cần thiết nhưng không phải là tác nhân chính cho việc thành tựu siêu thoát. Ví như các phạm nhân đang thụ án trong trại giam, chỉ khi nào tự thân họ biết sám hối ăn năn và cải tạo tốt mới có thể mong ngày hưởng ân xá, khoan hồng. Còn người thân dù yêu thương hay có điều kiện đến mấy quyết lo cho phạm nhân mà tự thân phạm nhân ấy không tỉnh thức và cứ liên tục sai phạm thì khó cứu. Do vậy khi người thân mất đi, trách nhiệm của chúng ta là tận tâm dốc lòng cầu nguyện và tạo phước để hồi hướng, mong họ siêu thoát. Còn siêu thoát hay không là do sự tỉnh thức chuyển hóa nghiệp lực của chính họ, thân nhân chỉ trợ duyên mà không thể can thiệp được. Cho nên không cần gọi hồn, triệu hồn hay các phương pháp tương tự vì không mang đến lợi ích thiết thực cho hương linh và chỉ tốn kém, gây lo lắng hoang mang thêm cho thân nhân.
Trong bối cảnh cầu cúng mang sắc thái thần quyền đang nở rộ hiện nay, người Phật tử cần thiết lập chánh kiến trong việc thờ cúng để khỏi rơi vào tà kiến, mê tín dị đoan.

 

Sau 49 ngày người chết đi về đâu?



Thông thường, khi người thân qua đời trong khoảng thời gian 49 ngày là quan trọng nhất. Bởi vì trong thời gian này người mất đang rất đau khổ có thể còn quyến luyến với trần gian còn nhiều việc phải làm và trả nhiều nợ nần trên trần đời. Nhiều người cho rằng trong khoảng thời gian 49 ngày người mất vẫn còn ở trong ngôi nhà với một linh hồn có thể biết được những suy nghĩ, tiếng nói và việc làm của những người trong gia đình. Và sau 49 ngày mất đa số người mất sẽ được đầu thai thành những kiếp khác nhau. Tuy nhiên những người có nhiều nghiệp ác hay người mất ngoài đường không về nhà được thường không được siêu thoát cho nên họ vẫn sống vất vưỡng và phải chịu một án phạt nào đó rất nặng nề và cực khổ. Chính vì vậy, trong 49 ngày này rất quan trọng đối với những người trong gia đình. Trong khoảng thời gian này bạn nên ăn chay, niệm phật để cầu cho linh hồn của người mất được siệu thoát. Thời gian này các bạn cũng nên làm nhiều điều thiện và tuyệt đối không được sát sinh, vì sát sinh sẽ làm cho người chết thêm mang tội và phải giải trình vì các vong hồn của con vật mà ta sát sinh sẽ kiện tụng ở dưới đó làm cho họ bị chậm quá trình siêu thoát.

 

Phật giáo nhìn nhận như thế nào về việc con người sau khi chết 49 ngày mới đi đầu thai?

Theo Phật Giáo đúng 49 ngày là đủ để đi đầu thai và không cần phải cúng bái nữa. Nếu trong thời gian này hiện tượng vãng sinh đã xảy ra như khi tắt thở, hơi nóng nằm ở đỉnh đầu hay ít ra thì ở ngực thì chúng ta có thể tin chắc là người mất ấy đã vãng sinh hoặc đã trở lại làm người cho nên không cúng bái nữa cũng không sao. Nhưng với những người khi chết hơi nóng nằm ở vùng bụng trở xuống thì phải đi đầu thai vào ba đường và chắc chắn là khó vãng sinh. Cho nên thân nhân của người mất cần phải cúng nhiều hơn lúc xưa, làm phước bố thí chu đáo hơn để hồi hướng cho hương linh, thì có thể nhờ vào những phước báu ấy mà hương linh sẽ đi đầu thai tiếp theo trong thời gian sau đó. Vì lẽ ấy mà ở tại mỗi chùa ở Việt Nam hay ở ngoại quốc ngày nay vào lúc 5 giờ chiều đều có lễ cúng cô hồn, gọi là đi công phu chiều, tụng kinh Di Đà, Hồng Danh và Mông Sơn Thí Thực nhằm để siêu độ những linh hồn. Nhưng người Việt Nam không dừng sự cúng kiến ở 49 ngày mà còn tiếp tục các tuần thất và giỗ quảy theo đó nhiều năm.

 

Lý giải tại sao con người chết 49 ngày mới đi đầu thai?


Trong thế giới tâm linh nếu người chết muốn đầu thai được thành người trở lại thì trong hiện kiếp người đó cần thực hiện ngũ giới và tam quy một cách trọn vẹn thì người đó mới được đầu thai. Khi còn sống người đó phải sống không tà đạo, không sát sinh,  nói dối, trộm cướp và không dùng những chất kích thích, gây nghiện. Những người ở hiện kiếp đã tu thập thiện một cách trọn vẹn làm phước, bố thí, cúng dường  thì khi thần thức vừa rời khỏi xác liền được bay bổng lên cao và nhập vào cảnh giới của chư Thiên. Nếu ai tu Bồ Tát Hạnh và thực hành Lục Ba La Mật như bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định thì có thể trở thành Bồ Tát để hóa độ chúng sinh. Những ai cầu vãng sinh Tây Phương Tịnh Độ thì Phật và nhị vị Thánh chúng sẽ đến nghinh tiếp chúng ta khi hơi thở không còn vào ra nơi thân thể  nữa và tùy theo hiện thế đã trồng được những căn lành gì để cửu phẩm liên hoa ở Tây Phương được tương xứng hay cao hơn như thế nữa. Riêng những người không tin nhân quả tội phước báo ứng và không có thiện hữu trí thức đi cùng hay chẳng có tâm sám hối khi làm những việc ác báo thì chắc chắn khi thần thức lìa khỏi xác phàm ma vương, quỷ sứ sẽ đến nghinh tiếp về chốn Diêm Đài để trị tội và xét xử. Lúc còn sống nếu như con người có ý muốn tái sinh trở lại làm người thì với cái nhân ấy nó sẽ dẫn dắt thần thức của mình nghiêng về hướng đó để chọn nghiệp và đầu thai. Nếu trong quá khứ người ấy có tâm luyến ái với kẻ nào nhiều thì chính cái nhân thần thức ấy sẽ ngã về hướng đó. Nó đi tìm cho đến khi nào gặp được giống như ý của nó muốn mà thôi. Thời gian từ khi mất cho đến 49 ngày là thời gian quyết định để tâm thức đi đầu thai.

 

Ý nghĩa cúng 49 ngày


Lễ cúng 49 ngày là một dạng tín ngưỡng, đồng thời nó cũng là buổi lễ cúng giỗ vô cùng quan trọng của người còn sống đối với người đã khuất. Đây là một buổi lễ mở đầu sau ngày người chết qua đời được 49 ngày. Phong tục này được người Việt Nam dựa theo thuyết Phật giáo Âm hồn sau khi đã qua đời phải trải qua 7 lần phán xét, mỗi lần kéo dài 7 ngày. Sau đó linh hồn phải đi qua 1 điện lớn ở âm ty và sau 7 tuần vong hồn sẽ được siêu thoát. Đây là quãng thời gian đưa linh hồn người chết nên nương nhờ cửa Phật. Đây là một buổi cúng giỗ rất quan trọng trong tục để tang đối với người Việt nhằm thể hiện tấm lòng thành kính, thương xót và tưởng nhớ của những người còn sống đến những người đã khuất. 

 


Phật giáo cho rằng không phải con người chết là hết. Sau khi xác thân này hư hoại thì thần thức tuỳ theo nghiệp báo mà tái sinh vào các cõi tương ứng với nghiệp nhân mà người kia đã gieo tạo, ngoại trừ các bậc đại giác như Đức Phật, hay các bậc Bồ-tát đã cắt đứt dòng tham ái và thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Thế giới tình thức này không chỉ có cảnh giới con người mà còn có các cảnh giới khác nữa. Có thể thấy việc cúng 49 ngày chỉ có ý nghĩa đối với những người đã mất nhưng chưa quyết là được tái sinh về cảnh giới nào hoặc đang trong trạng thái mê mê tỉnh tỉnh của thân trung ấm. Chúng ta thực hiện việc cúng cầu siêu như vậy sẽ phần nào nhắc nhở và gợi cho người quá vãng hướng tâm về các thiện sự đã làm hoặc thiết tha thực hiện những tư tưởng tốt đẹp nhờ đó thần thức được tái sinh về cảnh giới tốt đẹp hơn.

 



Con người chết rồi sau khi thần thức lìa khỏi thể xác trước lúc chưa đi đầu thai, ví như người từ trong nhà bước ra ngoài nhưng chưa vào nhà khác vẫn còn ở trung gian đây là chỉ ý nghĩa thân trung ấm. Người nào có tín sâu,  nguyện thiết, tinh tấn niệm Phật khi mới chết ngay đó liền vãng sinh Tây phương hoặc những người có căn lành sâu dày thì trực chỉ sinh về cõi trời hay  kẻ tạo ác nghiệp nặng liền đọa vào Địa ngục vô gián ba hạng người này là không trải qua gian đoạn thân trung ấm. Hạng người phổ thông bình thường đã không phải cực thiện cũng không phải cực ác đều phải trải qua giai đoạn thân trung ấm. Thời gian thọ sinh có nhanh chậm không đồng đều. Nhanh thì trong khoảng khảy móng tay liền đầu thai vào một trong sáu đạo luân hồi còn chậm thì khoảng bốn mươi chín ngày hoặc hơn bốn mươi chín ngày.

 

 


Theo kinh Địa Tạng nói: Người chết sau 49 ngày, gọi là chung thất, thì vong linh của người mất, tùy nghiệp mà thọ sanh chiêu cảm quả báo. Nếu hiện đời tạo nhiều điều lành, thì sẽ thọ sanh về cảnh giới an lành. Ngược lại, thì thọ sanh vào cảnh khổ. Tùy chỗ tạo nghiệp thiện ác, mà thọ sanh qua các loài và các cảnh giới sai biệt trong vòng lục đạo luân hồi. Cũng chính theo lời dạy nầy, mà Phật tử thường hay cúng Trai Tăng vào ngày chung thất.

Mục đích là nhờ sức chú nguyện của chư Tăng Ni, gọi là đức chúng như hải, mà hương linh thác sanh về cảnh lành. Tuy nhiên, nếu luận theo ý nghĩa của hai chữ cầu siêu, thì không phải chỉ trong 49 ngày thôi. Vì cầu siêu có nghĩa là cầu mong vượt qua: “Từ cảnh giới tối tăm xấu ác, vượt qua đến cảnh giới tốt đẹp an lành”. Hiểu theo nghĩa đó, thì lúc nào ta cũng phải cầu siêu, cầu siêu cho chính bản thân ta, đồng thời cũng cầu siêu cho mọi người luôn luôn được sống trong an lành.

Theo ý nghĩa đó, thì lúc nào ta cũng phải cầu siêu cho ta và cho người mãi mãi thoát khỏi khổ đau để được an vui giải thoát, chớ không phải chỉ trong phạm vi 49 ngày thôi.

Vì thế, sau 49 ngày, Phật tử và những thân nhân trong gia đình tiếp tục tụng kinh niệm Phật, thì đó là điều rất tốt. Dù cầu siêu hay không, người Phật tử cũng nên tụng kinh niệm Phật để cho hiện đời mình được an lạc và đời sau cũng được an lạc.

Và sau mỗi lần tụng kinh niệm Phật như thế, thì Phật tử cũng nên cầu nguyện cho hương linh thân nhân của mình, cũng như cho những vong hồn khác, rộng ra là cho cả pháp giới chúng sinh hữu tình vô tình đều trọn thành Phật đạo. Đây là thể hiện tấm lòng từ bi vị tha của người Phật tử, như thế, cũng rất là tốt đẹp vậy.

 

Lễ vật cúng 49 ngày gồm những gì?


Về cách sắp đặt cúng tế, thì rất kỵ việc sát sanh, vì việc sát sanh càng làm liên lụy khổ quả cho người chết. Thân trung ấm nếu một phen thấy được việc ấy lập tức bảo thôi; nhưng ngặt nỗi âm, dương cách trở, người thân gia đình không thể nào nghe được, vẫn trở lại sát sanh như thường. Kẻ chết không thể ngăn nổi sân niệm khởi lên, liền phải đọa vào địa ngục. Cho nên người sắp đặt cúng tế cần phải cẩn thận chú ý.

Nếu muốn cúng tế, thì nên dùng đồ chay, hương, hoa, sữa, bánh và trái cây, chớ dùng những đồ uế tạp và sát hại sanh vật. Kinh Địa Tạng đã nói: “Làm những việc sát hại, cho đến bái tế quỉ thần đã không có một mảy may phước đức, không có lợi gì mà còn kết thêm tội lỗi sâu nặng cho người chết.

 

49 ngày sau khi mất thân quyến nên làm gì cho người quá vãng?


Sau 49 ngày, Phật tử và những thân nhân trong gia đình tiếp tục tụng kinh niệm Phật, thì đó là điều rất tốt. Dù cầu siêu hay không, người Phật tử cũng nên tụng kinh niệm Phật để cho hiện đời mình được an lạc và đời sau cũng được an lạc
Từ lúc người chết ra đi cho đến 49 ngày, gia đình thân quyến chớ có sát sinh đãi đằng cúng tế, vì làm vậy người mất sẽ bị oan đối không được siêu thoát.
Gia đình tiếp tục luân phiên niệm Phật và khai thị nhắc nhở hương linh, thì nhất định sẽ giúp người thân mình được giải thoát.
Điểm trọng yếu của việc phước thiện là phải lấy hạnh bố thí làm gốc. Để hương linh được lợi ích, gia đình đem di sản của người chết đi bố thí là tốt hơn hết. Nếu không, thì bố thí của cải của gia đình người thân hoặc của bà con, bạn bè mà giúp vào cũng được, người chết chắc chắn được lợi ích.

 

 

Kinh Vô thường đã nói: “Sau khi người thân mất, gia đình nên lấy y phục mới mẻ của người chết, hoặc lấy những vật thọ dụng của kẻ còn sống: chia làm 3 phần, vì người chết đó mà cúng dường Phật-đà, Đạt-ma và Tăng-già (Tam bảo). Nhờ đó mà người chết dù nghiệp nặng cũng trở thành nhẹ và được công đức phước lợi thù thắng. Không nên đem những y phục tốt đẹp mặc cho người chết để đem đi tống táng. Vì sao? Vì không có lợi gì. Chỉ nhờ những công đức làm việc phước báu nói trên, người chết dù đọa vào Ngạ quỉ, cũng được hưởng rất nhiều lợi ích”.

Trong kinh Ưu-bà-tắc cũng có nói: “Nếu người cha chết rồi bị đọa vào trong Ngạ quỉ, mà người con vì cha làm những việc phước đức, nên biết, người cha liền được hưởng thọ. Nếu được sanh lên Trời thì người chết không còn nghĩ đến vật dụng trong cõi Người nữa. Vì sao? Vì ở cõi Trời, người ta đã được đầy đủ bảo vật thù thắng rồi. Nếu phải đọa vào địa ngục, thì thân họ phải chịu bao nhiêu khổ não, không được thảnh thơi để nhớ nghĩ luyến tiếc mọi vật, vậy nên không được hưởng thọ. Kẻ đọa vào súc sanh, nên biết cũng như thế. Nếu hỏi tại sao ở trong ngạ quỉ người chết có thể liền được hưởng thọ lợi ích, thì biết vì người ấy sẵn có lòng tham lam bỏn xẻn, cho nên phải đọa vào ngạ quỉ. Khi đã làm ngạ quỉ, họ thường hay hối hận tội lỗi ngày trước, suy nghĩ muốn được lợi ích, bởi thế họ được hưởng lợi ích”.

Đấy là nói rõ chỗ lợi của quỉ thú, còn đối với công phu làm việc phước thiện, thật không luống uổng, vì không những kẻ chết, mà người sống hiện tại cũng chung phần được hưởng. Như trong kinh nói: “Nếu như kẻ chết đã thác sinh vào ác đạo khác, nhưng còn bao nhiêu bà con còn đọa trong ngạ quỉ, nếu người sống có làm việc phước đức, tức thì họ cũng đều được lợi ích. Vì thế, người có trí, nên vì ngạ quỉ mà siêng năng làm việc công đức”.

Lưu ý rằng khi lấy di sản của kẻ chết làm việc phước đức, trước hết phải xét rõ người ấy lúc còn sống, tính tình có bỏn sẻn không. Điều này rất quan trọng, vì khi thấy gia đình người thân đem di sản của mình ra làm Phật sự hay bố thí, thấy vật dụng đó bây giờ thành sở hữu của kẻ khác, người chết liền sanh lòng giận hờn, tiếc nuối, rồi khởi lên tà niệm, liền bị nghiệp lực dắt vào ác đạo.

Cho nên thiện tri thức hoặc người thân gia đình phải khai thị cho người chết những lời như sau đây “Ông/bà tên… Nay ta vì ông/bà mà đem di sản của ông/bà làm Phật sự hay bố thí. Làm như thế, tức là lấy của cải hữu lậu làm việc vô lậu, nhờ ở công đức này, ông/bà sẽ được siêu sanh Tịnh độ, thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi. Ông/bà phải chăm lòng thành kính niệm Phật A-di-đà, cầu Ngài đến cứu độ cho. Đối với di sản, ông/bà cần phải rời bỏ, chớ nên bận lòng, phải hoàn toàn không mến tiếc tham đắm mới được. Vì những thế tài (tài sản thế gian) dù có hoàn toàn để lại, ông/bà cũng không thể thọ dụng được nữa. Như thế, đối với ông/bà, chúng đã thành vô dụng, còn luyến tiếc làm gì?”.

 

Trả lời